Thứ Tư, ngày 25 tháng 3 năm 2020

Lợi ích từ việc sử dụng chế phẩm sinh học

Ngày nay, cụm từ chế phẩm sinh học hầu như không còn quá xa lạ đối với bà con nông dân nữa. Với những ích lợi từ việc sử dụng chế phẩm sinh học, bà con nông dân đã có thể an tâm về một mùa vụ chăn nuôi hiệu quả và chất lượng.

chế phẩm sinh học balasa cho heo

Vậy chế phẩm sinh học là gì? Có lẽ, mọi người cũng không cần nhắc lại khái niệm của chế phẩm sinh học, vì thế chúng ta sẽ tập trung nhiều hơn tới công dụng của các loại chế phẩm này. Trên thực tế, có khá nhiều loại chế phẩm sinh học khác nhau về thành phẩn và công dụng:

Lợi ích về kinh tế

Vì giá thức ăn cho gia súc, gia cầm đang gia tăng nên các loại chế phẩm sinh học dùng ủ thức ăn làm giảm đáng kể chi phí chăn nuôi. Vì nguyên liệu ủ là thuần thiên nhiên nên vật nuôi sẽ nhanh tăng cân, tải trọng mà chất lượng thịt lại tốt và hiệu quả. Từ đó bà con không cần tốn nhiều chi phí mà lại có thể bán ra với giá cao hơn, đem lại lợi nhuận hơn hẳn so với cách nuôi truyền thống. Tiêu biểu cho dòng sản phẩm này là chế phẩm sinh học NN1 hay còn gọi là Men Ủ Vi Sinh.

Bên cạnh sản phẩm chế phẩm sinh học NN1 dùng ủ thức ăn cho vật nuôi, cần phải tính toán thời gian và khối lượng thức ăn, hiện nay còn có một loại chế phẩm sinh học bổ sung các loại chất bổ, vitamin, acid amin và vi sinh có lợi là sản phẩm Vườn Sinh Thái. Vườn Sinh Thái đó đặc điểm lợi hơn NN1 ở chỗ có khả năng pha loãng vào nước rồi cho vật nuôi uống hoặc trộn vào thức ăn cho ăn trực tiếp. Điểm bất lợi của Vườn Sinh Thái là không thể tận dụng nguồn thức ăn rẻ có sẵn mà chỉ bổ sung vào bữa chính của vật nuôi.

chế phẩm sinh học balasa cho gà

Lợi ích môi trường

Nhờ vào sự phân giải của các vi sinh vật mà chuồng trại sẽ không còn mùi hôi của phân như trước. Điều này sẽ làm hạn chế tối đa các côn trùng gây hại hay các mầm mống gây bệnh cho vật nuôi. Vì môi trường chăn nuôi sạch sẽ nên môi trường sống của người dân xung quanh cũng không chịu ảnh hưởng nhiều, nên sẽ không ảnh hưởng tới sức khỏe của người chăn nuôi. Sản phẩm tiêu biểu của dòng này là chế phẩm sinh học Balasa N01 hay còn gọi là Đệm Lót Sinh Thái.

Khác với Balasa N01 có thể làm đệm lót ngay trong chuồng, phân giải trực tiếp chất thải của vật nuôi. Chế phẩm sinh học Weviro lại cần có thời gian ủ cũng như công sức dọn dẹp. Nhưng bù lại Weviro có khả năng phân hủy tất cả các loại rác có gốc hữu cơ như vỏ cây, rễ cây, rơm, rạ, vỏ cà phê....

Có thể nói, với lợi ích đã nêu ra, thì chế phẩm sinh học sẽ được nhiều người sử dụng hơn nữa trong thời gian tới.

Thứ Năm, ngày 13 tháng 2 năm 2014

Vì lợi ích của nông dân

Trong chuỗi giá trị của hạt gạo xuất khẩu, mặc dù vai trò của người nông dân là trọng yếu nhưng lợi ích của họ lại là… thứ yếu. Nghịch lý này đã tồn tại suốt bao nhiêu năm qua và đến nay vẫn còn là “thực tế đau lòng” nhưng chưa có cách giải quyết khả thi nào.

vì lợi ích người nông dân

Trong thông điệp đầu năm, một trong những vấn đề quan trọng mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nêu rõ là phải tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Thực tế cho thấy, cấu trúc của ngành nông nghiệp hiện nay có nhiều bất cập, cần phải thay đổi. Song song đó, cần thay đổi cách nghĩ, cách làm để hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại. Trong nền nông nghiệp mới đó, người nông dân không chỉ biết ứng dụng công nghệ cao để gia tăng giá trị sản phẩm mà còn biết thay đổi phương thức giao dịch, mua bán các sản phẩm nông nghiệp truyền thống, chuyển sang các phương thức kinh doanh, mua bán tiên tiến và hiệu quả hơn.

Cách nay hơn 10 năm, có dịp công tác tại Nhật Bản, chúng tôi được các đồng nghiệp người Nhật đưa đi thực tế ở một số vùng nông thôn cách Tokyo vài trăm kilômét. Ấn tượng đầu tiên của chúng tôi là khi vừa rời khỏi nhà ga xe lửa đã thấy bác nông dân người Nhật chờ sẵn với chiếc ô tô láng cóng. Sau một hồi lái xe trên các tuyến đường phủ nhựa sạch sẽ, tinh tươm, bác nông dân đưa chúng tôi đi qua một chiếc cổng lớn và giới thiệu đây chính là “ruộng nhà tôi!”.

Thật đáng ngạc nhiên, với gần 20ha ruộng lúa đang chín tới, vàng ươm nhưng vợ chồng ông chỉ cần thu hoạch chưa đến 1 tuần. Đó là nhờ tất cả đều được cơ giới hóa ở mức độ công nghệ rất cao, từ khâu gặt lúa, sấy lúa, chế biến thành gạo…Đã thế, người nông dân này còn lập trang web để kết nối với các trung tâm thu mua lúa gạo, quảng bá rộng rãi nên sản phẩm làm ra không chỉ bán nhanh mà còn được giá. Nhờ cách làm này, nhiều nông dân Nhật Bản giảm được nhiều rủi ro trong quá trình sản xuất, tiết kiệm nhân công, chi phí và thu được lợi nhuận cao hơn hẳn người nông dân ở nhiều nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam chúng ta.

Trong “Tam nông”: Nông nghiệp - Nông dân - Nông thôn, người nông dân phải là chủ thể. Nông dân không chỉ là lực lượng chủ đạo trong sản xuất mà còn là đối tượng được thụ hưởng xứng đáng với những thành quả lao động của chính mình. Để làm được điều này không phải là điều đơn giản, có thể hoàn thành một sớm một chiều nhưng nếu không thực hiện kiên quyết và triệt để, trong nhiều năm tới, hàng chục triệu nông dân Việt Nam sẽ vẫn phải chịu cảnh một nắng hai sương, làm lụng vất vả nhưng hoa lợi thu được không tương xứng với công sức bỏ ra.

So với cách làm nông nghiệp truyền thống, hiện nay tại nhiều nơi ở nước ta, đặc biệt là ở đồng bằng sông Cửu Long, người nông dân đã bắt đầu ứng dụng công nghệ vào sản xuất. Các cánh đồng mẫu lớn ra đời và gặt hái thành công bước đầu không chỉ là niềm cảm hứng cho những nhà quản lý, nhà khoa học nông nghiệp mà ngay cả với người nông dân vốn bao đời bị bó buộc trong các bờ vùng, bờ thửa của một nền nông nghiệp nhỏ bé, manh mún và lạc hậu. Không thể có một nền nông nghiệp lớn mạnh, hiện đại với những cánh đồng nhỏ bé bị chia cắt bởi hàng trăm, thậm chí hàng ngàn bờ vùng bờ thửa.

Trong quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp sắp tới, nhà nước cần nhanh chóng tạo điều kiện để các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tham gia vào lĩnh vực này. Bên cạnh đó, cần rà soát, xử lý dứt điểm các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực nông nghiệp làm ăn thua lỗ kéo dài; chấm dứt tình trạng độc quyền; tạo “sân chơi” bình đẳng cho tất cả doanh nghiệp để tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh ngay trong cộng đồng doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp.

Trong những năm tới, các cơ quan chức năng cần chuẩn bị các bước cơ bản để tiến tới xây dựng thị trường mua bán nông sản tương lai, đấu giá nông sản… như một số nước phát triển đã thực hiện nhằm loại bỏ tình trạng người nông dân thường xuyên bị ép giá. Ngoài ra, cần xây dựng Quỹ bảo hiểm giá nông sản để bảo vệ người nông dân trước các biến động của thiên tai, dịch bệnh.

Bên cạnh vai trò của nhà nước, bản thân người nông dân cũng phải tự làm mới mình, thích ứng với sự thay đổi để phát triển. Trong đó, việc ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất cũng như mua bán, kinh doanh các sản phẩm nông nghiệp đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc và ngày càng chuyên nghiệp hơn. Trong vấn đề này, vai trò của các hội nông dân, các trung tâm đào tạo nguồn nhân lực về nông nghiệp, đội ngũ kỹ sư, khuyến nông… là hết sức quan trọng.

Trong những năm khủng hoảng kinh tế khốc liệt vừa qua, lĩnh vực nông nghiệp đã khẳng định vai trò là bệ đỡ của nền kinh tế toàn cầu. Không có nhiều nước trên thế giới làm giàu nhờ nông nghiệp, nhưng bất cứ quốc gia nào cũng đều xem nông nghiệp là yếu tố cơ bản để làm nên sự thịnh vượng dài lâu. Chính yếu tố nền tảng này của nông nghiệp khiến trong mấy năm gần đây, nhiều quốc gia đã thay đổi chiến lược phát triển, cụ thể là quan tâm và đầu tư nhiều hơn cho lĩnh vực này.

Với nước ta, tái cấu trúc nền nông nghiệp trong tổng thể tái cấu trúc nền kinh tế là điều không thể không làm. Nhưng để quá trình tái cấu trúc thành công, ngoài quyết tâm của cả hệ thống chính trị, điều đặc biệt quan trọng là phải luôn vì lợi ích của nông dân!

Đình Tuân/ Báo SGGP

Thứ Hai, ngày 01 tháng 7 năm 2013

Sử dụng chế phẩm sinh học trong canh tác hồ tiêu bền vững

Sau nhiều năm nghiên cứu, Trường Đại học Tây Nguyên đã tìm ra biện pháp sử dụng chế phẩm sinh học trong canh tác cây hồ tiêu. Theo đó, trường đã xây dựng các mô hình sản xuất hợp lý bảo đảm canh tác tiêu bền vững, mang lại hiệu quả kinh tế cao, thân thiện với môi trường.

chế phẩm sinh học cho hồ tiêu

Các nhà khoa học đã sử dụng các chế phẩm sinh học chitin, chitosan và chitosan oligomer cho cây hồ tiêu trong thời kỳ kiến thiết cơ bản. Các chế phẩm sinh học được tách chiết từ vỏ tôm cua, côn trùng, vách tế bào nấm. Đây là những thành phần không độc hại, phân hủy sinh học nhanh và an toàn với môi trường. Các thành phần Chitosan và chitosan oligomer có hoạt tính kích thích tăng trưởng ở thực vật, tăng số lượng vi sinh vật có lợi, hạn chế nấm gây hại trong đất và tăng cường hệ thống đề kháng của thực vật đối với cây trồng.

Ứng dụng vào sản xuất, các chế phẩm được tưới cho cây hồ tiêu 3 lần, mỗi lần cách nhau 15 ngày. Sau 3 tháng, số lượng nấm mốc và xạ khuẩn có trong đất tăng lên nhanh chóng. Nhờ vậy, tạo cho cây hồ tiêu có khả năng tăng đề kháng với các loại nấm bệnh trong đất. Trong quá trình canh tác đã cho thấy, khi bón các chế phẩm chitosan và chitosan oligomer đã làm giảm đáng kể số lượng nấm gây bệnh Fusarium đối với cây hồ tiêu. Ngoài ra cây được kích thích sinh trưởng thân dây chính và các cành nhánh phát triển nhanh hơn.

Tiếp thu thành quả nghiên cứu và thực nghiệm của Trường Đại học Tây Nguyên, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Đăk Nông đang áp dụng việc sử dụng các chế phẩm sinh học vào canh tác cây hồ tiêu thời kỳ kiến thiết cơ bản của nhiều hộ nông dân và đã đạt kết quả khả quan. Trong đó, áp dụng phổ biến tại các địa phương trồng nhiều hồ tiêu như huyện Đắk R’lâp, Cư Jut và thị xã Gia Nghĩa.

Hồ tiêu là loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao nhưng hiện nay việc canh tác loại cây này đang gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân chủ yếu là do sự tàn phá trên diện rộng của bệnh vàng lá chết nhanh, vàng lá chết chậm do các loại vi rút gây ra. Hiện nay, các biện pháp phòng trừ hóa học không hiệu quả và gây ô nhiễm môi trường. Việc sử dụng chế phẩm sinh học trong canh tác hồ tiêu đã mang triển vọng lớn về phát triển sản xuất bền vững. Thời gian tới, các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu các chế phẩm sinh học áp dụng canh tác cây hồ tiêu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất cho nông dân.

NNM

Thứ Năm, ngày 20 tháng 6 năm 2013

Sử dụng chế phẩm sinh học làm tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp

Để giúp nông dân hạn chế sử dụng phân bón hóa học, tăng cường sử dụng các chế phẩm, phân bón có nguồn gốc hữu cơ sinh học áp dụng vào sản xuất trên diện rộng, ngành nông nghiệp tỉnh Ninh Thuận đang khuyến khích nông dân trong tỉnh sử dụng chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái vào canh tác sản xuất lúa và các loại rau màu, củ quả..., nhằm giảm chi phí đầu tư, nâng cao hiệu quả kinh tế, tạo ra sản phẩm nông sản hàng hóa an toàn, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng.

sử dụng chế phẩm sinh học vườn sinh thái

Nhiều nông dân huyện Krông Nô thường xuyên sử dụng chế phẩm sinh học để chăm bón, phòng trừ sâu hại cho cây trồng

Theo đánh giá của ngành nông nghiệp tỉnh Ninh Thuận: Chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái là sản phẩm dinh dưỡng cao cấp, được sản xuất từ nguồn gốc thiên nhiên với những thành phần dinh dưỡng đặc biệt, giúp sinh vật tăng khả năng hấp thu dinh dưỡng, trao đổi chất và chống chịu với thời tiết khắc nghiệt, đồng thời đề kháng tốt các loại sâu bệnh hại cây trồng.

Không ít hộ nông dân ở các huyện Ninh Hải, Ninh Phước đã và đang sử dụng chế phẩm sinh học này vào sản xuất lúa, dưa hấu, táo..., bước đầu mang hiệu quả kinh tế khá cao. Những tính năng vượt trội của loại dinh dưỡng này đã giúp nông dân tiết kiệm được 30 đến 50% lượng phân hóa học, giảm 70 đến 95% lượng thuốc bảo vệ thực vật, làm tăng năng suất các loại cây trồng từ 20 đến 40%, chất lượng nông sản cũng tăng lên đáng kể.

Anh Nguyễn Thanh Liêm ở thôn An Xuân, xã Xuân Hải, huyện Ninh Hải cho biết: Trước đây, đất đai ở nhà không trồng được cây gì cả, do đất sỏi đá, nghèo dinh dưỡng, lại bị nhiễm phèn nên đành phải bỏ hoang. Được Phòng nông nghiệp huyện chỉ dẫn sử dụng chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái cải tạo đất, nên đất này mới trồng được cây cối xanh tốt như hôm nay. Gia đình đã làm 2 vụ dưa có sử dụng chế phẩm này và thấy loại chế phẩm này không chỉ giúp cải tạo đất mà còn tăng sức đề kháng cho cây trồng, hạn chế được sâu bệnh, cho năng suất cao, sản phẩm nông sản rất đẹp, chất lượng tốt, trong khi đó chi phí đầu tư giảm rõ rệt.

Theo tính toán của ông Liêm: khi chưa sử dụng chế phẩm này, 1 ha dưa được trồng cho đến thu hoạch cần 1,3 tấn phân bón, chưa tính chi phí cho các loại thuốc trừ sâu sử dụng để phòng trừ sâu bệnh..., nhưng năng suất thu được chỉ từ 2,5 đến 3 tấn dưa, thu hoạch không có lãi. Khi sử dụng chế phẩm Vườn Sinh Thái, vụ dưa này gia đình chỉ đầu tư 900 kg phân bón, đầu tư thuốc men để phòng trừ sâu bệnh rất ít, dưa phát triển rất tốt.

Ông Trần Văn Thuận (46 tuổi) ở thôn 3, xã Xuân Hải cũng cho biết: Gia đình tôi làm 1,5 sào lúa, đầu tư phân, thuốc... hơn 2 triệu đồng/vụ, năng suất chỉ đạt hơn 6 tạ/sào/vụ. Từ khi sử dụng chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái vào sản xuất, từ giai đoạn ngâm giống, dùng phun xịt theo từng giai đoạn sinh trưởng, lúa phát triển rất tốt, không bị sâu bệnh..., chi phí đầu tư cả vụ chỉ hơn 1,5 triệu đồng nhưng năng suất lúa đạt hơn 9 tạ/sào/vụ.

Kỹ sư Trần Hữu Nhân - Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Ninh Hải khẳng định: Vườn Sinh Thái là chế phẩm sinh học rất đa công dụng đối với tất cả các loại cây trồng. Chế phẩm không những cung cấp đầy đủ thành phần dinh dưỡng giúp cây trồng tăng khả năng phát triển, làm cân bằng trạng thái sinh học trong đất, đề kháng sâu bệnh gây hại, nâng cao chất lượng nông sản, mà còn giúp cải tạo đất, giúp cây trồng chống chịu được hạn, chống được rét.

Thứ Hai, ngày 17 tháng 6 năm 2013

Nông nghiệp bền vững với chế phẩm sinh học

Càng ngày các loại nông sản Việt Nam được thế giới biết đến càng nhiều như lúa gạo, cà phê, tiêu, điều, thanh long, vú sữa... Chỉ tính riêng cà phê, Việt Nam hiện có năng suất cao trên thế giới, 8 đến 10 tấn cà phê/hécta. 

Để đạt được năng suất ấy, người nông dân phải sử dụng đến 2 tấn urê/1 ha cùng với rất nhiều phân bón hóa chất khác và không ít các loại thuốc bảo vệ thực vật (BVTV). Hệ quả không chỉ nông dân phải mất nhiều tiền vào hóa chất mà hệ sinh vật đất và chất lượng đất bị tàn phá nghiêm trọng.

Đất đai ngày càng thoái hóa, dinh dưỡng bị mất cân đối, tồn dư các chất độc hại trong đất ngày càng cao, nguồn bệnh tích lũy trong đất càng nhiều dẫn đến phát sinh một số dịch hại không dự báo trước, việc trồng trọt về sau ngày càng khó khăn hơn. Trước tình hình đó, Chế phẩm sinh học được xem là giải pháp giúp giảm tiền phân bón, tăng năng suất cây trồng và thân thiện với môi trường.

Phong phú các loại Chế phẩm sinh học

Chế phẩm sinh học là sản phẩm của quá trình tái tạo và sử dụng tài nguyên sinh học. Chế phẩm sinh học bao gồm các vật liệu từ gỗ, giấy, các sản phẩm từ rừng và các chế phẩm có nguồn gốc sinh học như: nhiên liệu sinh học, năng lượng sinh học, chất kết dính sinh học, hóa sinh, nhựa sinh học, tinh bột, cellulose, ethanol,…

Chế phẩm sinh học hiện nay được ứng dụng nhiều trong chăn nuôi, thủy sản, công nghiệp…, ứng dụng trong nông nghiệp rất được quan tâm ở Việt Nam.

Chế phẩm sinh học dùng trong nông nghiệp có những ưu điểm nổi trội so với các chế phẩm hóa chất như:
  • Không gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng như thuốc BVTV từ hóa chất.
  • Cân bằng hệ sinh thái trong môi trường đất nói riêng và môi trường nói chung. Ví dụ như phân hữu cơ vừa tăng dinh dưỡng cho đất, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật đất hoạt động.
  • Không làm thoái hóa đất mà còn góp phần tăng độ phì nhiêu của đất.
  • Cây trồng hấp thu chất dinh dưỡng dễ hơn, góp phần tăng năng suất và chất lượng nông phẩm.
  • Tiêu diệt côn trùng gây hại, giảm thiểu bệnh hại, tăng khả năng đề kháng bệnh của cây trồng mà không làm ảnh hưởng đến môi trường như các loại thuốc BVTV có nguồn gốc hóa chất. Tác dụng của Chế phẩm sinh học đến từ từ chứ không nhanh như các loại hóa chất nhưng tác dụng dài lâu.
  • Có khả năng phân hủy, chuyển hóa các phế thải sinh học, phế thải nông nghiệp, công nghiệp, góp phần làm sạch môi trường.
so sánh trước và sau sử dụng chế phẩm sinh học

Các Chế phẩm sinh học dùng trong nông nghiệp có thể được chia làm bốn nhóm như sau:

1. Nhóm Chế phẩm sinh học ứng dụng cho việc phòng trừ dịch hại trên cây trồng.

Thực chất đây là thuốc BVTV nguồn gốc sinh học có thể tiêu diệt hoặc phòng trừ dịch hại. Dịch hại là các sinh vật, vi sinh vật, các loại sâu hại, các loài gậm nhấm ... có khả năng gây hại cho cây trồng và lương thực.

2. Nhóm Chế phẩm sinh học dùng cho sản xuất phân bón hữu cơ sinh học, phân bón vi sinh.

Phân vi sinh là loại phân có chứa hàm lượng vi sinh vật có ích cao (≥ 1x108CFU/g), thường không có hàm lượng chất dinh dưỡng kèm theo. Phân vi sinh được sản xuất và bón vào đất nhằm tăng lượng vi sinh vật có ích cho cây trồng, đặc biệt đối với vi sinh vật cố định đạm.

Phân hữu cơ sinh học là sản phẩm phân bón được tạo qua quá trình lên men vi sinh vật các hợp chất hữu cơ có nguồn gốc khác nhau và chuyển hóa thành mùn. Không có yêu cầu chủng vi sinh phải đạt là bao nhiêu.

Phân hữu cơ vi sinh là loại phân bón được sản xuất từ nguyên liệu hữu cơ, có chứa ít nhất một chủng vi sinh vật có ích phù hợp với hàm lượng cao (≥ 1x106CFU/g).
hình trồng và sử dụng chế phẩm sinh học gốc nấm
3. Nhóm Chế phẩm sinh học dùng cho cải tạo đất, xử lý phế thải nông nghiệp.

Là các loại chế phẩm có nguồn gốc sinh học được đưa vào đất để cải tạo lý hóa tính của đất (kết cấu đất, độ ẩm, hữu cơ, khả năng giữ nước, pH…), hoặc giải phóng đất khỏi những yếu tố bất lợi khác (kim loại nặng, vi sinh vật, hóa chất độc hại …) làm cho đất trở nên tốt hơn để sử dụng làm đất trồng cây.

4. Nhóm điều hòa sinh trưởng cây trồng (hooc mon tăng trưởng).

Ở Việt Nam, hooc mon tăng trưởng được xếp vào danh mục thuốc BVTV, chia thành hai nhóm nhỏ:
  • Nhóm các chất kích thích sinh trưởng: các chất có tác dụng kích thích sự sinh trưởng và phát triển của cây. Hàm lượng các chất này được quy định chặt chẽ.
  • Nhóm các chất ức chế sinh trưởng: các chất có tác dụng kìm hãm, ức chế sinh trưởng và phát triển của cây như làm lùn, làm chín, làm rụng lá…
Sáng chế về Chế phẩm sinh học: phát triển mạnh mẽ trong thời gian gần đây

Chế phẩm sinh học dùng trong nông nghiệp bắt đầu có đăng ký sáng chế (SC) từ năm 1917. Theo cơ sở dữ liệu tiếp cận được, từ năm 1917 đến nay có khoảng 5.000 SC, trong đó giai đoạn 1990 – 2011 là giai đoạn phát triển mạnh với 4.528 SC, nhiều nhất là năm 2010: 382 SC.

Phân bón sinh học là nhóm chế phẩm có nhiều SC nhất, chiếm tỉ lệ 90,3% trong tổng số các SC về chế phẩm sinh học sử dụng trong nông nghiệp.

Trung Quốc là quốc gia có lượng SC về các Chế phẩm sinh học cho nông nghiệp nhiều nhất (chiếm tỷ lệ 52%). Các SC tại Trung Quốc tập trung nhiều vào phân bón sinh học và Chế phẩm sinh học cải tạo đất. Mỹ có nhiều SC về thuốc trừ sâu sinh học. Úc tập trung nghiên cứu nhiều về thuốc kích thích tăng trưởng cho cây trồng.

số lượng chế phẩm sinh học

tỉ lệ chế phẩm sinh học

số lượng thuốc bảo vệ thực vật

Ứng dụng các Chế phẩm sinh học trong nông nghiệp tại Việt Nam

Theo thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, năm 2009, có 344 sản phẩm được đăng ký vào danh mục các loại thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học, trong đó có 221 sản phẩm thuốc trừ sâu và 66 sản phẩm thuốc trừ sinh vật gây hại như ốc, chuột, mối…

Số lượng thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học được đăng ký gia tăng rất nhanh, năm 2000 chỉ có 2 sản phẩm, nay đã gấp hơn 150 lần. Tuy vậy, theo tiết lộ của các nhà kinh doanh thuốc BVTV, dù số lượng các thuốc BVTV sinh học tăng nhanh nhưng doanh số chỉ dưới 5% tổng doanh số thuốc BVTV. Nghĩa là hiện nay dù thuốc BVTV sinh học tốt, an toàn môi trường nhưng người nông dân lại ít sử dụng.

Về Chế phẩm sinh học dùng cho sản xuất phân bón hữu cơ sinh học, phân bón vi sinh, hiện nay rất đa dạng về chủng loại và số lượng ở Việt Nam. Theo Cục Trồng trọt, tính đến tháng 8/2012, Việt Nam đã có 1.694 các loại phân hữu cơ.

Tuy nhiên chỉ có một số ít sản phẩm có chất lượng và uy tín, còn lại không thể kiểm soát được chất lượng hay chất lượng không đảm bảo. Điều này đã làm giảm lòng tin của nhà nông vào loại sản phẩm này, làm thiệt thòi cho người sản xuất Chế phẩm sinh học nghiêm túc, ảnh hưởng đến xu hướng khuyến khích sử dụng Chế phẩm sinh học, nhất là việc dùng phân bón hữu cơ cho cây trồng.

Tiềm năng sử dụng các Chế phẩm sinh học trong nông nghiệp rất lớn, là hướng đi đúng đắn, hướng tới nền nông nghiệp hữu cơ, sinh thái bền vững và thân thiện với môi trường. Dù là một nước nông nghiệp nhưng việc sử dụng Chế phẩm sinh học ở Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế.

Thứ Sáu, ngày 14 tháng 6 năm 2013

Tiềm năng và hướng sử dụng chế phẩm sinh học phát triển nền nông nghiệp hữu cơ

So sánh trái bắp đạt loại 1 của cây thí nghiệm bón
bổ sung phân hữu cơ từ mụn dừa và đối chứng.

Bến Tre là tỉnh thuần nông, ngoài việc trồng lúa và nuôi trồng thủy sản thì chăn nuôi gia súc, gia cầm, kinh tế vườn dừa, cây ăn quả cũng góp phần lớn vào sự ổn định và phát triển kinh tế của tỉnh nhà.

Cùng với 58.441ha diện tích dừa, Bến Tre có khoảng 32.000ha diện tích cây ăn trái, 10.687ha cacao và 4.466ha mía (nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bến Tre) đang phát triển khá tốt và có chiều hướng tăng. Hàng năm, lượng phế thải trong chăn nuôi gia súc, gia cầm và phế phẩm thải ra trong sản xuất nông nghiệp của các loại cây trồng nêu trên tại tỉnh là khá lớn.

Lượng phế thải này phần lớn là những hợp chất hữu cơ giàu cacbon, sản phẩm sau quá trình phân hủy của chúng có thể được sử dụng như phân hữu cơ, có khả năng thay thế phân chuồng, có tác dụng làm cho đất tơi xốp, cải thiện các đặc tính của đất nhất là khả năng giữ nước.

Hiện nay, sự phát triển nền nông nghiệp của tỉnh đang đi vào mức độ thâm canh, xen canh cao với việc sử dụng ngày càng nhiều phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật hóa học. Sự canh tác trên đã làm cho đất đai ngày càng chai cứng, thoái hóa, dinh dưỡng bị mất cân đối, mất cân bằng hệ sinh thái trong đất; hệ vi sinh vật trong đất bị xáo trộn, tồn dư các chất độc hại trong đất ngày càng cao, nguồn bệnh tích lũy trong đất càng nhiều dẫn đến có thể phát sinh các loại dịch hại nghiêm trọng, khó dự báo trước.

Chính vì vậy, việc tăng cường phát triển nền nông nghiệp hữu cơ, bền vững và bảo vệ môi trường với việc tăng cường sử dụng chế phẩm sinh học trong phòng trừ sâu bệnh, sử dụng phân bón hữu cơ trong canh tác cây trồng đang là xu hướng chung của Bến Tre nói riêng và cả nước nói chung.

Năm 2010, dưới sự chuyển giao công nghệ từ Trung tâm Nghiên cứu chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp TP. Hồ Chí Minh (nay là Trung tâm Nghiên cứu đất, phân bón và môi trường phía Nam), Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ Bến Tre (Trung tâm) đã sản xuất thành công đất sạch dinh dưỡng và 3 loại phân hữu cơ từ mụn dừa là: phân hữu cơ khoáng (HCK), phân hữu cơ sinh học cao cấp (HCSHCC), phân hữu cơ vi sinh (HCVS).

Các loại phân kể trên đều đạt tiêu chuẩn chất lượng tốt như: cung cấp cân đối và đầy đủ các nguyên tố dinh dưỡng cho cây trồng, giúp cây phát triển tốt; bổ sung một số chủng vi sinh vật hữu ích cho đất; kích thích ra rễ, bộ rễ phát triển mạnh giúp cây hấp thu tốt nguồn dinh dưỡng, tăng cường chống chịu khô hạn, tăng sức đề kháng với các loại sâu bệnh; cải tạo đất tơi xốp, tăng khả năng giữ ẩm cho cây, tăng cường độ phì nhiêu, màu mỡ cho đất; tăng năng suất và chất lượng nông sản.

Qua khảo nghiệm trên một số cây trồng như: thanh long, bắp, lúa, bưởi, cacao do Trung tâm phối hợp với Hội nông dân các huyện ở 4 tỉnh, thành phố: Bến Tre, Vĩnh Long, Long An, TP. Hồ Chí Minh, bước đầu đã cho thấy việc bón bổ sung các loại phân bón HCVS, HCK và HCSHCC với liều lượng thích hợp cho năng suất cao hơn so với đối chứng từ 10,82 - 15,01%.

Hiện nay, sản phẩm đã được một số đại lý phân bón trong và ngoài tỉnh, nông dân đặt hàng để phân phối và sử dụng. Sự thành công này ngoài góp phần xử lý ô nhiễm môi trường, còn đem lại công ăn việc làm cho nông dân, đồng thời tạo ra sản phẩm mới phục vụ sản xuất nông nghiệp, tăng thu nhập cho nông dân trồng dừa trên cùng một đơn vị diện tích và góp phần vào việc đa dạng hóa các sản phẩm từ cây dừa.

Bến Tre xác định kinh tế vườn là một trong những ngành phát triển chủ lực của tỉnh nhà. Một số mô hình kinh tế đạt hiệu quả như: cây cacao xen vườn dừa, các mô hình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP trên cây ăn trái... Tuy nhiên, các vấn đề cần được quan tâm trên cây ăn quả như chất lượng không đồng đều, các mô hình an toàn sinh học chưa được nhân rộng, khả năng cạnh tranh trên thị trường ngoài nước chưa cao. Vì thế, có những chế phẩm sinh học đạt chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện tự nhiên và ổn định sẽ góp phần hỗ trợ người nông dân yên tâm trong sản xuất nông nghiệp, hướng người nông dân đến một nền sản xuất nông nghiệp xanh, sạch và bền vững hơn.
 
Chế Phẩm Sinh Học Balasa | Free WordPress Themes | Lasantha - Premium Blogger Themes | Chế Phẩm Sinh Học Vườn Sinh Thái